Thông tư 09/2026/TT-BGDĐT đang thiết lập một “khung chơi” hoàn toàn mới cho các cơ sở giáo dục đại học muốn tổ chức thi đánh giá năng lực ngoại ngữ và tiếng Việt, chuyển trọng tâm từ quy chế chi tiết sang hệ thống tiêu chuẩn – điều kiện tổ chức thi, đề thi và chấm thi ở mức độ chuẩn hóa cao.
Giới thiệu chung về Thông tư 09/2026/TT-BGDĐT
Ngày 26/02/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 09/2026/TT-BGDĐT – Quy định tổ chức thi đánh giá năng lực ngoại ngữ và tổ chức thi đánh giá năng lực tiếng Việt, áp dụng từ ngày 15/4/2026.
Thông tư điều chỉnh tiêu chuẩn của đơn vị tổ chức thi, trách nhiệm của đơn vị tổ chức thi, đơn vị liên kết tổ chức thi và cơ quan quản lý nhà nước, đồng thời khẳng định các chứng chỉ ngoại ngữ/tiếng Việt do đơn vị đáp ứng Thông tư cấp đều thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.
Đối tượng chính là các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở có hoạt động giáo dục đại học đào tạo các ngành ngoại ngữ, Văn học, Sư phạm Ngữ văn, tiếng Việt và văn hóa Việt Nam, Ngôn ngữ học, Việt Nam học, cũng như các đơn vị được giao nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng tiếng Việt cho người nước ngoài (sau đây gọi tắt là đơn vị).
Trọng tâm mới: Tiêu chuẩn tổ chức thi cho các đơn vị
Khác với mô hình “quy chế thi” liệt kê từng bước như Thông tư 23/2017, Thông tư 09/2026 xây dựng bộ tiêu chuẩn bắt buộc mà đơn vị tổ chức thi phải đáp ứng trước khi được triển khai kỳ thi đánh giá năng lực ngoại ngữ/tiếng Việt.
Các tiêu chuẩn này được hệ thống hóa trong Phụ lục I gồm 7 nhóm: đơn vị tổ chức thi, tổ chức và quản trị, nhân sự, cơ sở vật chất, phần mềm tổ chức thi, trang thông tin điện tử, ngân hàng câu hỏi thi và đề thi.
Với các trường đại học, điều này đồng nghĩa: muốn tổ chức thi, nhà trường phải xây dựng và ban hành Quy chế tổ chức thi nội bộ, quy định rõ tổ chức, tài chính, quy trình tổ chức, bảo mật đề thi, phòng chống thi hộ; đồng thời chịu trách nhiệm đảm bảo quy chế đó phù hợp với pháp luật và sẵn sàng cho thanh tra, hậu kiểm.
Các điều khoản then chốt về tổ chức thi
Đề án tổ chức thi – “tấm vé vào sân” bắt buộc
Theo Điều 5, mỗi đơn vị tổ chức thi phải xây dựng Đề án tổ chức thi đánh giá năng lực ngoại ngữ/tiếng Việt theo mẫu Phụ lục II, gửi Bộ GDĐT (qua Cục Quản lý chất lượng) và công khai trên cổng thông tin điện tử tối thiểu 60 ngày trước ngày thi.
Đề án bắt buộc trình bày rõ: mô hình tổ chức và quản trị, cơ sở vật chất, phần mềm tổ chức thi, trang thông tin điện tử, quy định tổ chức thi (quyền hạn, trách nhiệm của người tham gia tổ chức thi và người dự thi), quy trình tổ chức thi (chuẩn bị thi, coi thi, chấm thi, phúc khảo), cùng các biểu mẫu thông báo lịch thi, lệ phí, tra cứu kết quả và kênh tiếp nhận phản ánh.
Trách nhiệm toàn diện trước – trong – sau kỳ thi
Thông tư 09 yêu cầu đơn vị tổ chức thi:
-
Chịu trách nhiệm toàn diện về tổ chức thi, kiểm tra, giám sát toàn bộ quy trình trước, trong và sau mỗi kỳ thi.
-
Lưu trữ vĩnh viễn danh sách thí sinh, bảng điểm chi tiết, danh sách thí sinh được cấp chứng chỉ; đồng thời lưu trữ dữ liệu bài thi, dữ liệu từ camera giám sát phòng thi, phòng chấm thi, khu vực máy chủ, hồ sơ coi thi, hồ sơ chấm thi và đĩa CD/DVD chứa đề thi theo quy định về lưu trữ.
-
Thực hiện báo cáo định kỳ 2 lần/năm (trước 15/6 và 15/12) về kết quả tổ chức thi đánh giá năng lực ngoại ngữ/tiếng Việt theo mẫu Phụ lục III.
Về phía đơn vị liên kết tổ chức thi, Thông tư yêu cầu bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị, nhân sự coi thi, kể cả khi tổ chức thi ở nước ngoài, nhưng không được cấp chứng chỉ, toàn bộ thẩm quyền cấp chứng chỉ thuộc đơn vị tổ chức thi chính.
Đề thi và ngân hàng câu hỏi: chuẩn hóa, số hóa và bảo mật cao
Một trong những điểm nhấn đối với các đơn vị là chuẩn hóa sâu phần đề thi và ngân hàng câu hỏi thi thông qua Tiêu chuẩn 7 trong Phụ lục I.
-
Đơn vị phải có ngân hàng câu hỏi thi chuẩn hóa đủ lớn để tạo tối thiểu 70 đề thi đối với thi đánh giá năng lực ngoại ngữ và tối thiểu 30 đề thi đối với thi đánh giá năng lực tiếng Việt.
-
Câu hỏi phải được thử nghiệm, định cỡ, cân bằng độ khó; các tham số kỹ thuật được phân tích bằng cả lý thuyết khảo thí cổ điển và hiện đại, nhằm đảm bảo các đề thi rút ra là tương đương.
Việc rút đề thi được thực hiện ngẫu nhiên từ ngân hàng câu hỏi, chỉ bắt đầu khi ngân hàng đủ câu hỏi để tạo ít nhất 20 đề thi; trong cùng một lần thi, mỗi thí sinh có một mã đề riêng, thí sinh ngồi cạnh nhau không trùng nội dung, và câu hỏi chỉ được sử dụng lại sau tối thiểu 12 tháng.
Mỗi đề thi của từng lần thi phải được lưu ra đĩa CD/DVD dưới dạng mã hóa, niêm phong và chỉ được mở khi có yêu cầu của cơ quan quản lý, tăng mạnh mức độ bảo mật đề thi so với trước.
Chấm thi: nhân sự, phần mềm và kiểm soát chất lượng
Thông tư 09/2026 không còn liệt kê chi tiết Ban Chấm thi, Ban Phúc khảo như trong Quy chế kèm Thông tư 23/2017, nhưng chuyển sang đặt yêu cầu tối thiểu về nhân sự và hạ tầng chấm thi mà các trường đại học phải đáp ứng.
-
Nhân sự chuyên môn ra đề thi, chấm thi: tối thiểu 20 người với tiếng Anh, tối thiểu 10 người với mỗi ngoại ngữ khác và tiếng Việt, có trình độ tối thiểu thạc sĩ thuộc đúng nhóm ngành/ngành quy định; được bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ ra đề/chấm thi nói và viết; chỉ được ra đề/chấm thi ở bậc không vượt quá trình độ ngoại ngữ đã đạt.
-
Đội ngũ giảng viên, kỹ thuật viên phải có kinh nghiệm tối thiểu 3 năm tham gia các kỳ thi trên máy tính, đủ năng lực vận hành hệ thống, hỗ trợ coi thi và phục vụ chấm thi.
Về hạ tầng, phần mềm tổ chức thi bắt buộc phải:
-
Tự động chấm điểm bài thi trắc nghiệm, hỗ trợ chấm thi kỹ năng nói và viết, lưu trữ và sao lưu dữ liệu.
-
Cho phép theo dõi tiến trình làm bài, thống kê câu hỏi đã trả lời, tự động đăng xuất và lưu bài khi hết giờ, phục vụ phân tích kết quả thi.
Cùng với đó, hệ thống camera giám sát phải bao phủ cả phòng thi, phòng chấm thi và khu vực đặt máy chủ, dữ liệu camera được lưu cùng dữ liệu bài thi, trở thành căn cứ chính để xem xét xử lý vi phạm, bảo đảm tính minh bạch của quá trình chấm thi.
Hạ tầng tổ chức thi: từ phòng thi tới website của đơn vị
Đối với các trường đại học, Thông tư 09 đặt ra một “chuẩn kỹ thuật” tương đối cao:
-
Phòng thi: đủ ánh sáng, bàn ghế, hệ thống PCCC, đồng hồ chung; phòng thi kỹ năng nói phải có thiết bị ghi âm, ghi hình; có cổng từ hoặc máy quét cầm tay để kiểm soát vật dụng thí sinh mang vào.
-
Hệ thống máy tính: đủ cho ít nhất 100 thí sinh trong một lượt đối với thi đánh giá năng lực ngoại ngữ và 30 thí sinh với thi năng lực tiếng Việt; mỗi phòng có máy dự phòng, tai nghe và micro dự phòng, bố trí khoảng cách hoặc vách ngăn phù hợp để tránh lộ bài.
-
Hệ thống an ninh mạng và bảo mật đề thi trong trường hợp đề thi được vận chuyển qua mạng internet.
Trang thông tin điện tử của đơn vị phải:
-
Công bố định dạng đề thi, đề minh họa, quy định – quy trình tổ chức thi, lịch thi, địa điểm thi, danh sách thí sinh vi phạm và bị cấm thi.
-
Cho phép đăng ký dự thi, tra cứu kết quả, và hỗ trợ đơn vị sử dụng chứng chỉ trong việc xác minh kết quả thi, chứng chỉ với đầy đủ thông tin cá nhân, kết quả, số hiệu chứng chỉ, bậc đạt được.
So sánh trọng tâm tổ chức thi, đề thi, chấm thi với Thông tư 23/2017 và 24/2021
Thông tư 23/2017/TT-BGDĐT ban hành Quy chế thi đánh giá năng lực ngoại ngữ theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam, quy định rất chi tiết về Hội đồng thi, Ban Đề thi, Ban Coi thi, Ban Chấm thi, Ban Phúc khảo, hình thức thi, đề thi, tổ chức thi, chấm thi, phúc khảo, cùng chế tài xử lý thí sinh vi phạm.
Thông tư 24/2021/TT-BGDĐT chủ yếu sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế này, không thay đổi cấu trúc tiếp cận theo hướng “quy chế chi tiết”. Các quy định này hiện bị thay thế hoàn toàn bởi Thông tư 09/2026 từ ngày 15/4/2026, với lộ trình chuyển tiếp cho các đơn vị đang tổ chức thi đến hết 31/12/2026.
Bảng so sánh ngắn gọn
Thông điệp dành cho các đơn vị tổ chức thi
Với các trường đại học đang hoặc chuẩn bị tổ chức thi đánh giá năng lực ngoại ngữ/tiếng Việt để cấp chứng chỉ thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, Thông tư 09/2026/TT-BGDĐT không chỉ là văn bản thay thế Thông tư 23/2017 và 24/2021, mà là “bộ khung tiêu chuẩn vận hành” mới.
Nhà trường cần sớm:
-
Rà soát hiện trạng nhân sự, cơ sở vật chất, phần mềm, ngân hàng câu hỏi, quy chế nội bộ so với 7 nhóm tiêu chuẩn trong Phụ lục I.
-
Xây dựng hoặc cập nhật Đề án tổ chức thi và Quy chế tổ chức thi nội bộ, bảo đảm mô tả rõ quy trình coi thi, chấm thi, phúc khảo và các quy định bảo mật, phòng chống thi hộ/thi thay.
-
Chuẩn bị lộ trình chuyển đổi theo điều khoản chuyển tiếp để không gián đoạn hoạt động thi, đặc biệt với các đơn vị đang vận hành kỳ thi theo Thông tư 23/2017 và 24/2021.


